Mua Crypto
Thanh toán bằng
Thị trường
NFT
New
Tải xuống
English
USD
Trung tâm trợ giúp
Câu hỏi thường gặp | Binance FAQ
Phái sinh tiền mã hoá
Lựa chọn

Hợp đồng Quyền chọn Vanilla Options hoạt động như thế nào?

Binance
2021-03-11 04:09
Cơ cấu của Tài khoản Quyền chọn
Binance đã thiết kế tài khoản Quyền chọn riêng cho mỗi người dùng. Tài khoản này sử dụng USDT để làm đơn vị giao dịch và thanh toán.
Tài khoản Quyền chọn Binance cho phép người dùng chuyển tài sản đến và chuyển tài sản từ tài khoản Spot của mình. Người dùng có thể chuyến USDT đến tài khoản Quyền chọn từ tài khoản Spot hoặc chuyển USDT đến tài khoản Spot từ tài khoản Quyền chọn.
Định nghĩa các từ khoá trong Tài khoản Quyền chọn:
Tài sản trong tài khoản
Tài sản trong tài khoản = Số dư tài khoản + Phần lãi và lỗ chưa ghi nhận (Người bán) + Giá trị vị thế (Người mua).
Số dư tài khoản = Tổng số tiền chuyển vào - Tổng số tiền chuyển ra + Lãi lỗ thực tế - Tổng phí.
Giá trị vị thế (Người mua) = Số vị trí (Người mua) × Giá đánh dấu Quyền chọn.
Giá đánh dấu Quyền chọn
Giá cơ sở của Quyền chọn. Giá Đánh dấu Quyền chọn được tính theo công thức BS.
Ký quỹ Thế chấp (Margin Collateral)
Tài sản thế chấp cho các giao dịch chưa thanh toán được sẽ bị đóng băng khi các lệnh đang trong trạng thái chờ xử lý.
Vị thế Thế chấp (Position Collateral)
(Người bán) Tài sản thế chấp được dùng để phát hành và bán Hợp đồng Quyền chọn.
Khoản Lời/Lỗ chưa ghi nhận
Khoản Lời/Lỗ chưa ghi nhận = (Giá đánh dấu Quyền chọn - giá vị thế trung bình) x Số lượng vị thế.
Ở đây, số lượng vị thế có thể là số âm (Người bán).
Margin duy trì
Nếu giảm xuống thấp hơn mức Margin Duy trì, vị thế Quyền chọn sẽ bị cưỡng chế thanh lý (Người bán).
Khả dụng
Khả dụng = Tối đa [Tối thiểu (tài sản, số dư tài khoản) - Vị thế thế chấp - Ký quỹ thế chấp, 0]
Giá đánh dấu Quyền chọn
Giá Đánh dấu Quyền chọn là giá trị của Quyền chọn được báo cáo bởi hệ thống kiểm soát rủi ro, được tính bằng cách sử dụng tài sản thế chấp vị thế và khoản lãi/lỗ chưa được ghi nhận. Giá Quyền chọn được sử dụng trong hệ thống kiểm soát rủi ro và có thể được coi là giá lý thuyết hợp lý của Hợp đồng Quyền chọn tại thời điểm hiện tại.
Ký quỹ Thế chấp (Margin Collateral)
Người mua Quyền chọn cần phải có đủ vốn để mua Quyền chọn để có thể sở hữu quyền được cấp bởi Hợp đồng Quyền chọn. Trong khi đó, người bán Quyền chọn cần phải có đủ vốn để đảm bảo rằng quyền được thực thi mà không gặp bất kỳ vấn đề gì. Vì vậy, Người bán phải gửi ký quỹ thế chấp.
  1. Việc người dùng mua Quyền chọn không liên quan đến việc sử dụng đòn bẩy hoặc vay vốn. Hành động mua Quyền chọn được xem là giao dịch Spot (Giao ngay) - bạn chỉ cần cung cấp đủ vốn để có thể mua Quyền chọn trực tiếp.
  2. Khi muốn phát hành Hợp đồng Quyền chọn để bán, người dùng có thể thực hiện theo một trong hai cách sau:
Cách đầu tiên: Bạn có thể bán Quyền chọn nếu bạn nắm giữ vị thế Quyền chọn (vị thế được tạo bằng cách mua Quyền chọn), việc bán Quyền chọn về cơ bản là chuyển nhượng quyền được cấp bởi Quyền chọn. Ở khía cạnh này, cách thức vận hành giống với giao dịch Spot;
Cách thứ hai: Bạn có thể bán Quyền chọn dù không sở hữu một vị thế Quyền chọn. Bằng cách, bạn có thể bán khống Quyền chọn, có nghĩa là người bán Quyền chọn là người chịu nghĩa cụ, bán Quyền chọn sử dụng ký quỹ và phải chịu đóng băng ký quỹ thế chấp.
Vậy nên, việc xác định được hành vi giao dịch của người dùng dựa trên mỗi lượt giao dịch và đóng băng quỹ/tài sản được dùng làm thế chấp của người dùng là điều vô cùng cần thiết.
  1. Dựa theo nguyên tắc trên, chúng tôi đã xác định một số các hành vi giao dịch như sau:
Mua để mở: Người dùng mua Quyền chọn trực tiếp để sau khi giao dịch xong họ có thể giữ vị thế lớn hơn.
Bán để đóng: Nếu người dùng có một vị thế mở, họ sẽ bán một số lượng nhỏ hơn hoặc bằng số lượng nắm giữ của mình để đóng vị thế.
Bán để mở: Người dùng bán khống một Quyền chọn, và trở thành Người bán quyền chọn.
Mua để đóng: Sau khi bán khống một Quyền chọn, người dùng sẽ giữ một vị thế short, vị thế này có thể được đóng bằng cách mua Quyền chọn.
Cách tính Phí
Phí Quyền chọn có hai phần: phí giao dịch và phí thực hiện.
Phí giao dịch sẽ được tính sau mỗi giao dịch.
Phí quyền chọn là phí đơn hướng, vì vậy, khi Quyền chọn được thực hiện và người mua thu về lợi nhuận > 0, người mua sẽ trả phí này.
  1. Phí giao dịch = Giá chỉ số x Phí giao dịch.
  2. Phí để thực hiện = Giá thực hiện x Phí thực hiện.
  3. Phí giao dịch sẽ không chiếm quá 10% tổng số tiền giao dịch.
  4. Phí thực hiện sẽ không chiếm quá 10% tổng số lợi nhuận thu về sau khi thực hiện Quyền chọn.
Phí giao dịch cho mỗi giao dịch được tính toán được trên chỉ số giá tại thời điểm thành tất lệnh.
Mức phí giao dịch: 0,03% giá trị cơ sở
Mức phí thực hiện: 0,1% giá trị cơ sở
Giao dịch
Binance Vanilla Options là quyền chọn kiểu Châu Âu, vì vậy, người mua không thể lựa chọn có được thực hiện quyền của mình hay không cho đến khi đáo hạn. Từ thời điểm bắt đầu cho đến khi Quyền chọn được thực hiện, người dùng có thể mua hoặc bán trực tiếp.
Cách 1: Đầu tiên, mua Quyền chọn, sau đó bán nó đi. Lúc này, bạn mua một hợp đồng và chuyển nhượng (bán) hợp đồng đó cho người dùng khác. Mua vào giá thấp, bán ra giá cao, thu về lợi nhuận ở phần chênh lệch giá. Vì bạn đã chuyển nhượng quyền (bán) hợp đồng, bạn không cần quan tâm về việc thực hiện Quyền chọn về sau.
Cách 2: Trước tiên, bán Quyền chọn, và sau đó mua lại. Bạn sẽ hành động như một người bán trước và sau đó mua lại Quyền chọn sau, và nghĩa vụ của người bán cũng sẽ được chuyển nhượng. Bán giá cao, mua giá thấp. thu về lợi nhuận ở phần chênh lệch giá. Vì nghĩa vụ đã đã chuyển nhượng đi (mua), bạn không cần quan tâm về việc thực hiện Quyền chọn về sau.
Mô tả vị thế
Để có thể quan sát trạng thái của vị thế hiện tại tốt hơn, vị thế Quyền chọn được cài đặt như sau. Vị thế được mở bằng cách mua một Quyền chọn được hiển thị với số dương, trong khi đó những vị thế được mở bằng cách bán khống sẽ được hiển thị với số âm.
Mô tả Ký quỹ
Lệnh margin
Người mua Quyền chọn cần phải có đủ vốn để mua Quyền chọn để có thể sở hữu quyền được cấp bởi Hợp đồng Quyền chọn. Trong khi đó, người bán Quyền chọn cần phải có đủ vốn để đảm bảo rằng quyền được thực thi mà không gặp bất kỳ vấn đề gì.
Việc người dùng mua Quyền chọn không liên quan đến việc sử dụng đòn bẩy hoặc vay vốn. Hành động mua Quyền chọn được xem là giao dịch Spot (Giao ngay) - bạn chỉ cần cung cấp đủ vốn để có thể mua Quyền chọn trực tiếp.
Khi muốn phát hành Hợp đồng Quyền chọn để bán, người dùng có thể thực hiện theo một trong hai cách sau:
Cách đầu tiên: Người dùng sở hữu một vị thế Quyền chọn mở (bằng cách mua Quyền chọn) và bán Quyền chọn đi, có thể hiểu như chuyển nhượng quyền đã được Quyền chọn cấp. Ở khía cạnh này, cách thức vận hành giống với giao dịch Spot.
Cách thứ hai: Bạn có thể bán Quyền chọn dù không sở hữu một vị thế Quyền chọn. Bằng cách, bạn có thể bán khống Quyền chọn, có nghĩa là người bán Quyền chọn là người chịu nghĩa cụ, bán Quyền chọn sử dụng ký quỹ và phải chịu đóng băng ký quỹ thế chấp.
Vậy nên, việc xác định được hành vi giao dịch của người dùng dựa trên mỗi lượt giao dịch và đóng băng quỹ/tài sản được dùng làm thế chấp của người dùng là điều vô cùng cần thiết.
Mua để mởKhông có
Bán để mở{ Tối đa [ Giá Index * 10% , Tối đa ( Giá Index * 10% , Giá Index * 15% + Khối lượng OTM ) + Giá đánh dấu Quyền chọn - Giá đặt lệnh ] + Phí} * Khối lượng lệnh
Mua để đóngTối đa【 0 ,( Giá đặt lệnh + Phí Giao dịch )* Khối lượng lệnh - Khối lượng lệnh / Khối lượng vị thế * Tối thiểu ( Vị thế margin (Quyền chọn hiện tại) / Vị thế margin(Mọi vị thế) * Margin Balance , Vị thế margin(Vị thế hiện tại) ) 】
Bán để đóngKhông có
Khối lượng OTM của Quyền chọn mua: Tối thiểu ( Giá Index - Giá thực hiện , 0 )
Khối lượng OTM của Quyền chọn bán: Tối thiểu ( Giá thực hiện - Giá Index , 0 )
Vị thế Ký quỹ (Position Margin)
Khi mua Quyền chọn, người mua chi trả cả phí quyền chọn để không phải lo lắng về vị thế ký quỹ.
Khi người bán hoàn tất giao dịch Bán-để-mở, tài sản ký quỹ cho vị thế short được sử dụng làm vị thế ký quỹ của Người bán.
Vị thế Long
Không có
Vị thế Short
{ Tối đa [ Giá Index * 10% , Giá Index * 15% + Khối lượng OTM ] + Giá Đánh dấu của Quyền chọn } * Khối lượng vị thế
Giảm Ký quỹ (Reduce Margin)
Khi Số dư ký quỹ của người dùng giảm xuống dưới mức Giảm Ký quỹ , chức năng Giảm tự động (Auto Reduce) sẽ được kích hoạt.
Vị thế Long
Không có
Vị thế Short
{ Tối đa [ Giá Index * 5% , Giá Index * 7.5% + Khối lượng OTM ] + Giá Đánh dấu của Quyền chọn + Giá Index * (Phí giao dịch + 0.5%)} * Khối lượng vị thế
Ký quỹ duy trì (Maintenance Margin)
Ký quỹ duy trì là ngưỡng Ký quỹ mà tại đó chức năng cưỡng chế thanh lý sẽ được kích hoạt cho tài khoản Quyền chọn của người dùng. Khi tài sản trong tài khoản của người dùng thấp hơn mức Ký quỹ duy trì, cưỡng chế thanh lý sẽ được kích hoạt.
Vị thế Long
Không có
Vị thế Short
{ Tối đa [ Giá Index * 1.3% , Giá Index * 2% + Khối lượng OTM ] + Giá Index * (Phí giao dịch + 0.5%)} * Khối lượng vị thế
Thực hiện Quyền chọn (Exercising Options)
Thực hiện Quyền chọn cũng có nghĩa là khả năng thực hiện quyền dựa theo Hợp đồng Quyền chọn của Người mua. Người mua có thể lựa chọn thực hiện quyền hoặc không và Người bán Quyền chọn có nghĩa vụ hợp tác với Người mua nếu họ quyết định thực hiện quyền đó.
Binance Options sử dụng thanh toán bằng tiền mặt. Đối với Người mua Quyền chọn, nếu sau khi thực hiện Quyền chọn, họ thu về lợi nhuận > 0, việc thanh toán sẽ được thực hiện tự động sau khi thực hiện Quyền chọn. Nếu lợi nhuận từ việc thực hiện quyền chọn < 0, Quyền chọn sẽ tự động bị huỷ dưới danh nghĩa của Người mua. Đây là quy trình tự động và lợi nhuận cũng sẽ được tính toán tự động cho mỗi người dùng tham gia giao dịch.
Quyền chọn được thực hiện như thế nào
  1. Giá quy định cuối cùng là ≥ Giá thực hiện
  2. Quyền chọn mua (Call Option)
Người mua: Nếu lợi nhuận >0, Quyền chọn sẽ được tự động thực hiện, phí thực sẽ được được trừ và người mua sẽ nhận được USDT.
Người bán: Hợp tác với người mua để thực hiện Quyền chọn. Lợi nhuận của người mua sẽ được trừ đi và tài sản thế chấp còn lại sẽ được hoàn lại.
  1. Quyền chọn bán (Put Option)
Người mua: Nếu lợi nhuận <0, quyền thực hiện Quyền chọn sẽ bị huỷ.
Người bán: Mọi tài sản thế chấp đều sẽ được hoàn lại.
  1. Giá quy định cuối cùng < Giá thực hiện
  2. Quyền chọn mua (Call Option)
Người mua: Nếu lợi nhuận <0, quyền thực hiện Quyền chọn sẽ bị huỷ.
Người bán: Không áp dụng.
  1. Quyền chọn bán (Put Option)
Người mua: Nếu lợi nhuận >0, Quyền chọn sẽ được tự động thực hiện, phí thực sẽ được được trừ và người mua sẽ nhận được USDT.
Người bán: Hợp tác với người mua để thực hiện Quyền chọn. Lợi nhuận của người mua sẽ được trừ đi và tài sản thế chấp còn lại sẽ được hoàn lại.
Chỉ số Spot
Để tăng khả năng sử dụng tài sản thế chấp của Người bán, Quyền chọn Binance không yêu cầu Người bán cung cấp 100% tài sản thế chấp. Người bán Quyền chọn có thể không có đủ tài sản thế chấp hoặc sẽ phải chịu Cưỡng chế Thanh lý. Nguyên nhân chính dẫn đến việc Cưỡng chế Thanh lý bắt nguồn từ các khoản lời/lỗ chưa ghi nhận. Vì vậy, việc tính toán các khoản lời/lỗ chưa ghi nhận một cách chính xác là việc vô cùng quan trọng. Trong Quyền chọn, khoản lời/lỗ chưa ghi nhận thường đến từ chi phó mở vị thế Quyền chọn và việc tính toán mức Giá đánh dấu. Mức giá đánh dấu được tính dựa trên Chỉ số Giá Spot và các thông số khác, cũng là lý do vì sao Chỉ số Giá Spot luôn cần phải ổn định.
Chỉ số Giá Spot được sử dụng cho Hợp đồng Quyền chọn Binance có thể được xem là Mức Giá Spot Hợp lý, và Chỉ số giá Spot của Quyền chọn được sử dụng
bởi Binance tương đồng với Chỉ số Giá của Hợp đồng Tương lai Không kỳ hạn ký quỹ bằng USDT. Chỉ số giá là mức giá trung bình trên các thị trường chính, là thông số chính được sử dụng cho Giá đánh dấu.
Chỉ số Giá là một nhóm giá ghi nhận từ những Sàn giao dịch Spot lớn, được tính theo khối lượng tương đối của chúng. Chỉ số Giá được sử dụng cho các hợp đồng ký quỹ USDT lấy giá từ Huobi, Bitterex, HitBTC, Gate.io, Bitmax, Poloniex, FTX, MXC.
Tham chiếu Chỉ số Giá cho mỗi hợp đồng tương lai ký quỹ bằng USDT như sau:
Các nhiều các biện pháp bảo vệ bổ sung để tránh các sự cố thị trường như xảy ra các Sàn giao dịch Spot bị gián đoạn hoặc các vấn đề về kết nối giao dịch. Các biện pháp bảo vệ này là như sau:
  1. Chênh lệch giá nguồn cục bộ: Khi giá gần nhất của một sàn giao dịch nhất định bị lệch trên 5% so với giá trung bình của tất cả các nguồn giá, trọng số giá chuyển đổi của sàn giao dịch đó sẽ bị đưa về 0.
  2. Chênh lệch giá nguồn diện rộng: Khi giá gần nhất của nhiều sàn giao dịch bị lệch trên 5%, giá trung bình của tất cả nguồn giá sẽ được sử dụng làm giá chỉ số thay cho trọng số trung bình.
  3. Sự cố kết nối của sàn: Nếu chúng tôi không thể tiếp cận đến dữ liệu của một sàn giao dịch, và dữ liệu giao dịch của sàn giao dịch mới chỉ được cập nhật trong 10 giây gần nhất, chúng tôi sẽ lấy dữ liệu giá từ kết quả có được gần nhất và dùng nó để tính Chỉ số giá.
Nếu dữ liệu giao dịch từ một sàn không có cập nhật trong 10 giây gần nhất, trọng số của sàn giao dịch sẽ bị đưa về 0 khi tính trọng số trung bình.
Giờ đây, khi đã nắm rõ cách tính toán Chỉ số giá, vốn có thể được xem là “Giá Spot”, chúng ta có thể tiếp tục tính Giá đánh dấu được sử dụng cho tất cả các phép tính PnL chưa thực hiện. Lưu ý rằng PnL được ghi nhận vẫn dựa trên giá thị trường được thực hiện thực tế.
Bài viết liên quan
Về Hợp đồng Quyền chọn Vanilla Options